Thứ Hai, tháng 11 29, 2010

[Luyện thi JLPT-N3] - Kì 16 - Học Ngữ Pháp - 1



Brick walls

But remember, the brick walls are there for a reason.
The brick walls are not there to keep us out.
The brick walls are there to give us a chance to show how badly we want something. 

Because the brick walls are there to stop the people who don't want it badly enough.
They're there to stop the other people.
Randy Pausch's Last Lecture - Really Achieving Your Childhood Dreams (video transcript pdf)


Cách đây hai tháng, khi chuyển sang học phần ngữ pháp trong cuốn Kanzen Master N2, chồng thấy ngán kinh khủng vì đọc vào mù tịt, đọc xong chẳng biết tại sao lại có mấy cái cấu trúc ngữ pháp như vậy, do đó chẳng biết làm thế nào để nhớ và dùng nữa. Lúc đó hỏi vợ có cách hay nào để học mấy thứ này không, vợ 'lạnh lùng' bảo ko có cách nào khác ngoài việc phải cố mà học cho thuộc mà thôi. Với người lười biếng như chồng, nghe xong là thấy 'mission impossible' - điệp vụ bất khả thi. Còn bây giờ, trước khi thi 1 tuần, chồng cũng đã biết được sơ sơ khoảng 50% những thứ mà cách đây hai tháng, chồng ko nghĩ mình có thể nắm được.

Nếu chỉ nhìn vào một người, thấy cách đây 2 tháng không biết gì, mà đến giờ biết được nhiều hơn, thì thực ra ko có gì đáng nói! Tuy nhiên, câu chuyện của chồng lại khác ở chỗ:

- Thứ nhất, học tiếng Nhật ko phải là chuyện chính của chồng, nó cũng ko phải là chuyện mang tính sống còn (chồng đã sống và làm việc ở Nhật 7 năm mà ko cần giỏi tiếng Nhật), nó cũng ko phải là sở thích của chồng (thực tế là chồng chẳng có hứng thú gì khi học ngoại ngữ), và học những thứ ở trình độ trung cấp như N2 cũng ko phải là chuyện dễ (từ N2 trở lên là có thể học ĐH bằng tiếng Nhật). Nói như vậy để thấy, đối với chồng, việc duy trì chuyện phụ như chuyện học tiếng Nhật trong khoảng thời gian liên tục 2 tháng mới là chuyện khó, chứ ko phải là chuyện khả năng học tiếng Nhật. Nhìn ra trong cuộc sống, sẽ thấy nhiều chuyện tương tự: bạn ko thích thể thao, nhưng luyện tập thể thao là chuyện rất cần cho sức khỏe nên đó là chuyện đáng làm. Tuy nhiên mỗi lần tập xong, lại thấy người đau ê ẩm, cứ muốn bỏ cuộc (vì bạn vẫn có thể tiếp tục sống mà ko cần phải luyện tập thể thao). Lúc đó bạn sẽ thấy duy trì chuyện tập thể thao trong một khoảng thời gian đủ lâu (ví dụ vài tháng) và chuyển nó từ việc ko thích thành thích sẽ thấy nó khó như thế nào.

- Thứ hai, đó là chồng phải tự học, tự nghĩ ra cách làm thế nào để có thể duy trì chuyện chán phèo (ở đây là học ngữ pháp) ko để bỏ cuộc và tự nghĩ ra cách làm thế nào để mà nhét vào trong đầu mấy cái thứ khó ưa kia. Chồng lúc học cái gì cũng vậy, đều suy nghĩ theo cách reproducible - tức là ghi lại những cách thức để có thể người khác nếu muốn cũng có thể lặp lại để có kết quả tương tự. (Điều này cũng giải thích vì sao chồng thường xuyên ghi lại những gì mình đã trải qua)!

Cho đến giờ, ít ra chồng cũng thành công trong việc duy trì chuyện học tiếng Nhật. Nhìn chồng bây giờ, chắc ko ai nghĩ trước kia chồng là người lười biếng (học tiếng Nhật) như thế nào. Mấy tuần vừa rồi, hầu như cuối tuần nào, chồng và các bạn cũng học 4-5 giờ  mỗi ngày, giữa tuần cũng có vài buổi học 2-3 giờ. Chuyện học tiếng Nhật bây giờ đối với chồng cũng thú vị không kém mấy chuyện khác như nghiên cứu, viết lách, xem phim. Chuyện học tiếng Nhật ko còn thấy ngán như trước một phần là chồng đã biết nhiều hơn, có thể vận dụng nó nhiều hơn trong cuộc sống. Ngẫm lại mới thấy đúng là vạn sự khởi đầu nan. Prof. R. Pausch có nói một ý đại loại: Trên con đường thành công, luôn có một bức tường phải vượt qua. Bức tường này dùng để thử thách tính kiên trì và chỉ những ai đủ kiên trì mới có thể vượt qua. Chuyện học tiếng Nhật cũng vậy, bức tường chính là cảm giác chán ngán khi gặp những thứ khó (từ vựng và ngữ pháp ngày một nhiều và khó nhớ), nhưng một khi đã vượt qua nó, lại thấy con đường tươi sáng ngay.

Đối với chồng đây là chuyện đáng nhớ bởi vì chồng đã làm được một việc mà suốt 7 năm qua muốn làm nhưng ko được! Nói ra thì thấy đúng là xấu hổ bởi vì học tiếng Nhật chứ có phải chuyện gì to tát đâu mà tới 7 năm ko làm được. Nhưng mỗi người mỗi hoàn cảnh, chuyện dễ đối với người này có khi lại là chuyện rất khó đối với người khác và ngược lại.

(Còn tiếp)

CY

Thứ Bảy, tháng 11 27, 2010

[Luyện thi JLPT-N3] - Kì 15 - Học Đọc Hiểu - 2

Phần 1 ở đây.

1. Bước 1 - Phân rã câu thành các mệnh đề bằng cách xác định các điểm ngắt chính
Một bài văn là tập hợp của các đoạn văn ngắn được liên kết với nhau trong việc thể hiện một ý lớn nào đó của tác giả. Mỗi đoạn văn là tập hợp của các câu văn. Mỗi câu văn lại là tập hợp của các từ. Cách tiếp cận thông thường nhất, tạm gọi là dưới lên (bottom-up) cho phần đọc là đọc từng từ. (Nhiều người khi đọc báo, tài liệu cũng dùng cách này). Tuy nhiên khi đọc bài văn viết bằng ngôn ngữ khác, ko nên đọc từng từ bởi vì như đã nói ở trên, sẽ có rất nhiều từ không biết. Thay vào đó nên tiếp cận theo hướng ngược lại, tạm gọi là trên xuống (top-down), đó là đọc theo cấu trúc của bài đọc trước. Nghĩa là đọc để hiểu ý chính của bài văn, sau đó là ý chính của từng đoạn văn, ý của từng câu, sau đó mới đến chi tiết. Lấy ví dụ câu: Tôi trong lúc đi Akihabara, thấy chiếc xe đạp giống của anh A rất rẻ nên đã mua, sẽ thấy bản chất chỉ là mua xe đạp, do đó để hiểu ý chỉ cần xác định 'ai làm gì' là đủ. Khi nào cần chi tiết, ví dụ mua ở đâu, vì sao mới đọc thêm phần còn lại.

Do đó, bước đầu tiên (liên quan đến kĩ năng đọc lướt Skimming) của phần đọc một câu văn (sentence)  là bước phân rã đoạn văn thành các mệnh đề (clause). Cách phân rã là xác định các điểm ngắt (major clause breaks). Trong tiếng Nhật, các điểm ngắt kiểu này thường nằm ở vị trí cho mục đích kết nối, hoặc diễn giải nguyên nhân, kết quả, điều kiện.

Dưới đây liệt kê các dấu hiệu dùng cho điểm ngắt

1. Kết nối theo kiểu VÀ (AND-relation), động từ chia ở thể te(て) và de(で)
私は朝六時に起き、夜十時ごろ寝る。
この辞書は安くて便利だ。
吉田さんは32歳独身です。

2. Kết nối theo kiểu dùng từ nối nghĩa đối nghịch (NHƯNG)  - thường có mo, ga, shi. Danh sách này nhiều do đó nên học các danh sách khác trước.
しかしただし、けれども、だけど、それでも、それなのに、それにしては、それにしても、だからと言って、ですが、でも、ところが、もっとも、ですけれども、

3. Kết nối theo kiểu dùng từ nối nghĩa gộp (VÀ)
しかも、そうして、その上に、それから、それと、それに、また


4. Kết nối theo kiểu dùng từ nối nghĩa liệt kê (HOẶC)
それともまたは


5. Kết nối theo kiểu dùng từ nối nghĩa nguyên nhân và hậu quả - thường có te, de, kara
したがって、すると、そこで、そのために、それで、だから、ですから、

6. Kết nối theo kiểu dùng từ nối nghĩa diễn đạt lại
つまり、結局、要するに、言い換えると

7. Kết nối theo kiểu dùng từ nối để đổi chủ đề
ところで、ときに、さて

Lưu ý danh sách các từ nối ở trên là không đầy đủ vì chồng chỉ liệt kê các từ thông dụng cho N3.


[Luyện thi JLPT-N3] - Kì 15 - Học Đọc Hiểu - 1


Chồng có thói quen ghi lại những gì mình đã tốn nhiều thời gian tìm hiểu và học hỏi. Lần này học nhiều kĩ năng đọc hiểu trong tiếng Nhật nên muốn ghi lại ở đây những gì mình thu thập được.

Phần đọc hiểu (reading comprehension) có thể nói là phần khó nhất vì nó tổng hợp nhiều kĩ năng liên quan đến từ vựng, ngữ pháp và viết. Có thể liệt kê một số lí do để giải thích vì sao khó:

- Thứ nhất là vốn từ vựng, ngữ pháp còn hạn chế. Đối với những người trình độ trung bình thì việc đọc một bài có nhiều từ không bíết là chuyện thường xuyên. Hơn nữa, cho dù có biết hết từ vựng đi nữa thì bài đọc thường sẽ có một số 'khái niệm' (concept) mới và kĩ năng hiểu được khái niệm mới là một trong những kĩ năng cơ bản nhất của đọc hiểu. Ví dụ, nói về giải thưởng Fields của GS. Ngô Bảo Châu, có một khái niệm mới đó là bổ đề cơ bản. Đối với người Việt, từng từ một thì hiểu cả, nhưng cụm từ đó chắc là ko nhiều người hiểu. Đưa ra ví dụ như vậy để thấy rằng, ko nên mong đợi nhiều ở việc hiểu hết từ vựng, quan trọng không kém là kĩ năng hiểu (comprehend) từ các diễn giải và ngữ cảnh của bài đọc.

- Thứ hai là các câu văn trong bài đọc thường dài và phức tạp. Ở trình độ thấp, chỉ thấy các câu đại loại: Tôi mua chiếc xe đạp. Nhưng ở trình độ cao hơn, sẽ thấy các câu phức tạp hơn, dù nghĩa tương đương: Tôi mua chiếc xe đạp giống như của anh A ở Akihabara với giá rất rẻ hoặc Tôi trong lúc đi Akihabara, thấy chiếc xe đạp giống của anh A rất rẻ nên đã mua. Sự phức tạp của câu văn thường làm cho người đọc hoang mang và nản lòng. Chồng lúc mới học đọc hiểu cũng vậy, đọc một câu dài, 2/3 là từ không hiểu nên ngán, ko muốn đọc nữa. Vì ko đọc hết nên xem như ko rút được bất kì thông tin gì, nhưng nếu chịu khó đọc với những gì mình đã biết (ví dụ câu ngắn) thì vẫn có thể hiểu được chút thông tin. Ví dụ như trong hai câu phức tạp trên, có thể sẽ hiểu được bản chất cũng là chuyện mua chiếc xe đạp mà thôi.

Sau một quá trình tìm hiểu, chồng tìm ra được tài liệu đề cập đến phương pháp để giải quyết vấn đề trên (bộ 3 cuốn A Dictionary of Basic/Intermediate/Advanced Japanese Grammar). Cũng nói thêm ở đây là bước tìm ra được tài liệu chỉ mới là một phần của chặng đường dài mà thôi vì để hiểu được tài liệu đó mới tốn thời gian và nó phụ thuộc rất lớn vào nỗ lực và khả năng tiếp thu của người học (cũng giống như không phải ai ôm bí kíp võ công cũng luyện được, phải có đủ nội lực). Chồng đọc tài liệu này, sau 3 tháng, cũng chỉ mới đủ sức hiểu được một nửa của nó mà thôi.

(Còn tiếp)


Thứ Hai, tháng 11 22, 2010

[Luyện thi JLPT-N3] - Kì 14 - Còn 2 tuần


Dù deadline có đặt trước 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng hay 6 tháng đi nữa, chồng (và có lẽ nhiều người khác cũng vậy) lúc nào cũng cảm thấy thiếu thời gian ở những ngày gần deadline và ước có thêm thời gian nữa. Cảm giác này thực ra là một kiểu "ngụy biện", bởi vì nếu cho thêm 1 tuần hay 6 tháng đi nữa, thì cũng đợi đến gần ngày cuối mới vắt giò lên cổ mà chạy. Chồng chỉ còn 2 tuần nữa là đến kì thi JLPT, nên tự nhiên lại có cảm giác mình còn thiếu nhiều thứ quá, muốn có thêm thời gian nữa để học. Tuy nhiên, cảm giác đó đã bị dập tắt ngay vì chồng đã tâm niệm câu nói của Prof. Paush: Chúng ta ko thể đổi được quân bài đã chia, chỉ có thể đổi cách chơi với nó mà thôi. Kì thi đã đến thì phải cố hết sức để có thể đạt được kết quả tốt nhất có thể.

Lần thi này, so với các lần thi trước, chồng có thời gian chuẩn bị rất đáng kể. Đã hầu như học lướt qua các phần sẽ thi, tập trung luyện một số phần như từ vựng, đọc hiểu. Do đó ghi lại ở đây một số kinh nghiệm. Những kinh nghiệm này rút từ việc học tiếng Nhật, nhưng nó cũng sẽ giúp chồng học mấy thứ khác, ví dụ như tiếng Anh.

1. Phải chú tâm đến câu hỏi
Đây là điểm quan trọng nhất đối với 2 phần thi đọc hiểu và nghe hiểu. Cách tiếp cận thông thường là nghe hiểu và đọc hiểu toàn bộ nội dung, sau đó đọc câu hỏi và trả lời. Cách tiếp cận này chủ yếu dùng cho người học rất giỏi mà thôi. Thực tế là trong kì thi, chuyện hiểu hết toàn bộ nội dung là chuyện hiếm (bởi vì lúc nào cũng sẽ có những từ, những ngữ, ko biết). Đối với một người mà chỉ có thể hiểu khoảng 50%-60% nội dung thì thường sẽ bị hoang mang và có cảm giác tự ti rằng mình có thể tìm được câu trả lời đúng. Thực ra, trong bài thi có rất nhiều câu chỉ cần hiểu 50-60% là có thể trả lời đúng, nếu mình chú tâm đến câu hỏi.

Viết đến đây chợt nhớ đến chuyện làm nghiên cứu của chồng. Nếu lúc nào cũng đem cách suy nghĩ phải hiểu hết 100% mới hài lòng thì chắc là sẽ bị stress thường xuyên. Công việc của chồng lúc nào cũng đòi hỏi phải tìm hiểu, đánh giá và rút kinh nghiệm từ những cái người khác làm. Chuyện hiểu hết 90%-100% là chuyện không tưởng vì có quá nhiều thứ không biết. Do đó, quan trọng nhất là phải biết mình muốn cái gì (bằng cách đặt câu hỏi cho chính mình) và chỉ cần chú tâm đến những phần nào giúp trả lời câu hỏi mà thôi.

Ngoài ra, ngay cả khi đọc hiểu hết, vẫn có thể trả lời sai nêu không đọc kĩ câu hỏi. Trong bài luyện thi đọc hiểu, chồng cũng có một số ví dụ về chuyện này. Những người sập bẫy thường là những người không đọc kĩ câu hỏi.

2. Cấu trúc và yêu cầu của đề thi

Phần này cũng rất quan trọng vì khi trình độ của mình chỉ mới nằm ở ranh giới giữa đạt và không đạt thì việc có sự chuẩn bị tốt về tâm lí cũng như chiến thuật làm bài sẽ giúp mình có thể có kết quả tốt nhất với năng lực hiện tại của mình. Cái này cũng giống như trong bóng đá thôi, cũng tùy đối thủ mà đá chứ ko phải chỉ có một lối đá duy nhất cho mọi đối thủ. Xem phần 1, phần 2, phần 3.

3. Thi thử
Hôm qua chồng làm thử một đề thi thử N3. Việc làm đề thi thử giúp chồng có ước lượng sơ bộ về năng lực của mình, đồng thời định hướng những gì nên tập trung cho những ngày cuối. 
Kết quả:

- Phần thi Vocabulary: 22/35 (7/8 + 4/6 + 8/11 + 1/5 + 2/4). 
- Phần thi Grammar: 12/23 (5/13 + 4/5 + 3/5).
- Phần thi Reading: 8/16 (2/4 + 2/6-random + 2/4 + 2/2).
- Phần thi Listening: 14/28 (1/6 + 3/6 + 2/3 + 2/4 + 6/9).

Phần Vocabulary, so với các lần thi trước đây có tiến bộ hơn vì biết nhiều hơn. Kết quả làm được 60% cũng phản ánh đúng như những gì chồng học ở chương trình Kanji Test. Các phần càng về sau càng khó. Khó nhất ở phần này là phần thứ 4, tìm từ đồng nghĩa. Lí do chính là nhiều từ không biết (thường là ghi bằng hiragana). Do đó, trong lần thi tới, đây sẽ phần thi làm sau cùng. Phần lớn thời gian sẽ tập trung cho 3 phần đầu tiên.

Phần Grammar, so với các lần thi trước thì có tiến bộ hơn vì đã làm được gần 50%. Phần thi liên quan đến ghép câu, tưởng là phần khó, lại là phần làm được nhất (4/5). Có lẽ do kĩ năng parsing sentences được tốt hơn (nhờ lúc học phần Reading). Phần thi điền ô trống thì đúng là te tua. Phần khó nhất là điền câu trong ngữ cảnh lại làm khá hơn dù ít thời gian. Do đó, trong lần thi tới, sẽ bỏ qua các câu khó của phần 1, làm phần ghép câu và phần cuối, sau đó mới trở lại làm các câu của phần 1. Phần này lại thi chung với Reading nên chắc chỉ dành tối đa 25 phút mà thôi.

Phần Reading, so với mong đợi thì có phần tệ hơn. Lí do chính là kì này đọc hiểu nhiều hơn nên 'say sưa' đọc. Hệ quả là không đủ thời gian. Phần này có thể làm được tốt hơn nếu phân bố thời gian hợp lí. Do phần đọc hiểu khá phức tạp, nên phải cân nhắc một chút về việc phân bổ thời gian. Nếu dành thời gian ko đủ cho một câu thì có thể sẽ bị mất trắng nếu câu đó ko trả lời đúng. Cho nên làm cho nhanh để làm được nhiều câu cũng chưa hẳn là hay vì số lượng câu đúng cuối cùng cũng có thể như nhau mà thôi.

Phần Listening, so với mong đợi thì có phần tệ hơn. Trong các phần, hóa ra phần cuối cùng 9 câu lại là phần có thể làm được nhiều nhất. Hai phần cuối làm được vì nó liên quan đến phản xạ trong giao tiếp. Mấy thứ này ở Nhật nhiều nên có thể cảm được câu nào phù hợp nhất. 12 câu đầu tiên của 2 phần thấy vậy mà khó vì nó đòi hỏi phải nghe chi tiết hơn. Điểm chung rút ra là phải tập trung vào nghe câu hỏi, đọc câu trả lời để có sự chuẩn bị, đồng thời trong quá trình nghe các câu trả lời, note lại để cố gắng loại trừ các câu sai, trước khi chọn lại câu đúng.


4. Luyện tập
Qua kì thi thử, có thể thấy là phần thi Vocabulary là đã khá ổn vì nếu cố cũng ko thể tăng điểm hơn, do đó chỉ cần dành ra 2-3 tiếng trước ngày thi để ôn lại là xong. Phần thi mà chồng nghĩ có thể cải thiện là phần Listening nên sẽ cố gắng dành phần lớn thời gian còn lại để ôn nó. Sau đó sẽ là phần Grammar và Reading. Phần Grammar cũng sẽ tập trung vào cuốn 500 câu hỏi mà thôi. Phần Reading thì mới kiếm được cuốn sách mới khá hay nên sẽ dành thời gian để học nó.

  
      


5. Ước lượng
Chồng thử ước lượng điểm thi của mình truớc khi thi để xem giữa ước lượng và thực tế như thế nào:
- Phần Vocabulary + Grammar: 27 - 36.
- Phần Listening: 28 - 36.
- Phần Reading: 21 - 30.
Tổng cộng: 76/180 - 102/180.

Điểm thấp nhất là sẽ là điểm tương đương kì thi tháng 7.2010, điểm cao nhất là điểm mà chồng nghĩ mình có thể hi vọng và mong đạt đến. Do điểm đậu là 95/180 nên cũng rất chơi vơi. :-). Tuy nhiên cho dù đậu hay rớt đi nữa, chỉ cần điểm thi lần này tốt hơn lần trước, vậy cũng đã là niềm vui không nhỏ rồi.

CY

Thứ Năm, tháng 11 18, 2010

[Luyện thi JLPT-N3] - Kì 13 - Cấu trúc và yêu cầu đề thi N3 - 3


Phần 1 ở đây.
Phần 2 ở đây.

3. Phần Grammar
Phần thi này có 23 câu hỏi, chia làm 3 phần trong đó:
- Phần điền vào ô trống (selecting grammar form) để câu đúng ngữ pháp có 13 câu.
- Phần sắp xếp các cụm từ (sentence composition) sao cho thành câu có 5 câu. 
- Phần vào đoạn văn (text grammar) có 5 câu.

4. Phần Reading Comprehension
Phần thi này có 16 câu hỏi, chia làm 4 phần, trong đó phần bài đọc ngắn có 4 câu hỏi, bài đọc trung có 6 câu hỏi, bài đọc dài có 4 câu hỏi và bài liên quan đến quảng cáo, thông báo có 2 câu hỏi.

- Phần bài đọc ngắn, khoảng 150-200 chữ, nói về các chủ đề trong công việc và cuộc sống hàng ngày (ví dụ email, thông báo)  (descriptions and directions regarding various topics including everyday life and work). Sẽ có 4 bài đọc ngắn, và mỗi bài đọc sẽ chỉ có một câu hỏi. Tổng cộng 4 câu hỏi. Chủ yếu là hỏi ý chính cho nên các câu đầu và cuối đoạn văn rất rất quan trọng

- Phần bài đọc trung, khoảng 350 chữ. Thường là các đoạn văn và bài bình luận (test understanding of key words and causal relations by reading text of approximately 350 characters, such as original commentary and essays). Sẽ có 2 bài đọc trung, mỗi bài có 3 câu hỏi. Tổng cộng 6 câu hỏi. Trong 3 câu hỏi dành cho mỗi đoạn, sẽ có một câu hỏi mang tính tổng quát, đòi hỏi phải hiểu ý toàn bài, ví dụ ý/quan điểm của tác giả muốn nói là gì. Bẫy nằm ở chỗ là quan điểm của tác giả có thể khác với quan điểm của số đông. Câu này nên làm sau cùng. Hai câu còn lại sẽ hỏi về chi tiết, thường là nằm ở mỗi đoạn, do đó chỉ cần đọc đoạn tương ứng là có thể làm được.

- Phần bài đọc dài, khoảng 550 chữ. Sẽ chỉ có 1 bài đọc dài mà thôi, và có 4 câu hỏi. Tổng cộng là 4 câu hỏi. Cấu trúc tương tự bài đọc trung nhưng mức độ khó hơn (test understanding of summary, logical development by reading text of approximately 550 characters, such as commentary, essays and letters). Phần này chú trọng vào ý nhiều hơn là vào chi tiết do đó nếu gặp các từ không hiểu rõ thì cũng ko nên bối rối mà cố gắng tập trung vào hiểu lập luận và các ý được phát triển bởi tác giả

- Phần bài đọc để tìm thông tin (information retrieval) có khoảng 600 chữ, chủ yếu là brochure hoặc quảng cáo. Chỉ có 1 bài và có 2 câu hỏi. Phần này ít có lắt léo, chủ yếu là loại trừ các ý không được đề cập trong bài là có thể tìm được câu đúng.

Xem đề thi mẫu do JLPT cung cấp ở đây.

Phần Grammar và Reading Comprehension có thời gian làm bài khoảng 70 phút. Do đó nên có sự phân chia hợp lí về mặt thời gian. Phần Grammar chồng vẫn còn nhiều chỗ chưa nắm vững nên sẽ dành khoảng 20 phút cho nó mà thôi. Chiến lược là lướt qua một lượt, câu nào chắc chắn ko làm được thì chọn random ngay, sau đó làm câu dễ trước, câu khó sau. Nhưng chỉ cho phép tối đa là 25 phút. Phần còn lại dành để làm bài Reading. Do điểm thi của Grammar được tính chung với Vocabulary nên điểm Grammar thấp cũng ko nghiêm trọng bằng điểm Reading thấp (vì có thể rơi vào dạng điểm liệt).

[Luyện thi JLPT-N3] - Kì 13 - Cấu trúc và yêu cầu đề thi N3 - 2

Phần 1 ở đây.

2. Phần Listening
Phần thi này tổng cộng có 28 câu hỏi làm trong vòng 40 phút, trong đó:
- Phần thi task-based comprehension: 6 câu. Dạng này câu hỏi sẽ được biết trước liên quan đến các hành động nhân vật (nam/nữ) trong bài sẽ làm gì kế tiếp (task). (test ability to extract necessary information to resolve specific issues and understand appropriate action to take).

- Phần thi comprehension of keypoints: 6 câu. Dạng này câu hỏi cũng sẽ được biết trước liên quan việc diễn giải lại các ý đã nêu trong bài (test ability to narrow down points based on necessary information presented in advance).

Hai dạng này thường chỉ cần nghe được keywords, keypoints là có thể suy luận được, ít có lắt léo.

- Phần thi comprehension of general outline: 3 câu. Dạng này câu hỏi chỉ biết sau khi đã nghe xong đoạn hội thoại. Thường là hỏi về ý chính của đoạn hội thoại là gì hoặc ý định của nhân vật trong đoạn hội thoại là gì. (test understanding of speaker’s intention and ideas from overall text). Đây có lẽ là phần thi khó nhất.

- Phần thi verbal expressions: 4 câu. Dạng này người ta cho hình vẽ mô tả trạng thái và yêu câu, ví dụ một cậu sinh viên đưa cho cô giáo một report, và muốn nhờ cô sửa tiếng Nhật giúp; vậy thì cậu sinh viên sẽ nói câu gì, trong số 4 câu lựa chọn được nghe (test ability to select appropriate verbal expressions by listening tocircumstances while looking at illustrations).

- Phần quick response: 9 câu. Dạng này người ta cho mình nghe một nửa đoạn hội thoại (thường chỉ là 1 câu), và yêu cầu mình chọn phần phản ứng (response) lại với đoạn được nghe. Phần phản ứng chỉ có 3 câu (thay vì 4 câu như thông thường). Ví dụ, câu được nghe sẽ là: hôm nay học ở đâu? Sau đó phải chọn câu trả lời phù hợp trong số 3 câu: (a) ở thư viện, (b) ở trang 51, (c) từ 3h đến 5h. Câu (b) bẫy những người ko chỉ nghe được ý ở đâu mà ko nghe được ý lớp học. Câu (c) bẫy những người chỉ nghe được ý lớp học, mà ko nghe được ý ở đâu. (test ability to select appropriate responses by listening to short utterances such as questions).

Hai phần thi này là mới đối với kì thi JLPT. Nếu giao tiếp thường xuyên thì sẽ dễ làm hơn.

Xem đề thi mẫu do JLPT cung cấp ở đây.

[Luyện thi JLPT-N3] - Kì 13 - Cấu trúc và yêu cầu đề thi N3 - 1

Việc biết cấu trúcyêu cầu của đề thi (đã được JLPT công bố) sẽ giúp chuẩn bị tâm lí và chiến lược rất nhiều. Ví dụ (đối với kì thi N3):


1. Phần Vocabulary
Phần thi này có tổng cộng 35 câu hỏi làm trong vòng 30 phút, trong đó:
- Phần thi cho từ Kanji, hỏi cách đọc: 8 câu. Ví dụ:

4・この町で両替ができるところを探すのは面倒だ。
8).両替 1.りょうかえ 2.りょうがえ 3.りょうたい 4.りょうだい
9).面倒 1.めいとう 2.めいどう 3.めんとう 4.めんどう

- Phần thi cho từ hiragana, hỏi từ Kanji tương ứng: 6 câu. Ví dụ

6・わが国のしゅしようが、来月、日本をおほうもんすることになった。
37).しゅしょう 1.首政 2.首省 3.首相 4.首正
38).ほうもん 1.訪問 2.訪門 3.防問 4.防門


- Phần thi chọn từ thích hợp để điền vào chỗ trống: 11 câu. Từ điền vào có thể ở dạng hiragana hoặc Kanji. Ví dụ:

46).このスープを作るには___も時間もかかります。
1.手段 2.手間 3.手入れ 4.手続き
45).「お茶のおかわり、いかがですか?」「あ、もう、____。そろそろ帰りますので。
1.おまたせしました 2.おかまいなく 3.かしこまりました 4.ごえんりょなく

- Phần thi chọn từ đồng nghĩa: 5 câu. Từ đồng nghĩa có thể ở dạng hiragana hoặc Kanji. Ví dụ:

世の中によく知られていて話題になっていること。
1.評価 2.批判 3.評判 4.批評
ことばの前について「ある範囲に属するすべて」を表す。
1.約 2.各 3.4.半

- Phần thi dùng từ thích hợp trong câu: 5 câu.

Có thể thấy rằng, nếu chỉ tập trung học Kanji theo kiểu cho từ Kanji, biết nghĩa, biết cách đọc chỉ đủ để làm 2 phần đầu tiên, tức là 14/35 câu mà thôi. Phần chiếm nhiều điểm nhất là phần thứ 3, chọn từ phù hợp với nghĩa của câu. Hai phần thi đầu có thể ko cần đọc cả câu vẫn làm được (các bạn Trung Quốc có lợi thế) thì các phần sau, ko đọc cả câu, hiểu nghĩa thì không làm được.

Xem đề thi mẫu do JLPT cung cấp ở đây.

Do chồng học nhiều về Kanji nên chiến lược là sẽ tập trung thời gian đầu làm các câu hỏi mà câu trả lời có Kanji. Sau đó với các câu mà ko biết gì thì đánh theo kiểu random. Thời gian còn lại làm các câu mà mình biết chút chút và cần thời gian để tìm ra câu đúng. 

Thời gian tổng cộng là 30 phút, do đó thời gian trung bình cho mỗi câu chưa đến 1 phút.


(Còn tiếp)

Chủ Nhật, tháng 11 07, 2010

[Luyện thi JLPT-N3] - Kì 12 - Học đọc hiểu

Phần thi đọc hiểu có thể coi là phần thi khó nhất trong các kì thi JLPT. Lí do được nghe nói là bài thi có nhiều bẫy (tricky) và thời gian hạn chế. Chồng sau 2 tuần luyện phần này, có thể nói rõ hơn lí do khó của phần thi này.

1. Có khá nhiều từ và ngữ pháp ko nắm vững (có cả loại chưa gặp bao giờ, hoặc đã gặp rồi mà quên)
Mặc dầu đây là chuyện xảy ra thường xuyên, nhưng nếu ko có sự chuẩn bị tâm lí tốt, sẽ gây ra cảm giác thiếu tự tin khi làm bài. Tâm lí thông thường là phải đọc hiểu hết thì mới tự tin trả lời. Đây là suy nghĩ nên tránh vì thực tế là có nhiều bài đọc, đưa cho người Nhật đọc (để minh họa cho trường hợp ngữ pháp và từ vựng biết đủ), họ vẫn có thể trả lời không đúng. Lí do là đối với các câu hỏi liên quan đến tóm lược (summary), suy luận (reasoning), thì kĩ năng hiểu (comprehend) cũng rất quan trọng.
Thực tế là trong số các loại ko nắm vững trong bài đọc, có loại ko gây ảnh hưởng đến việc tìm câu trả lời, có loại gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc chọn câu trả lời đúng. Do đó, nên biết phân loại chúng để có thể tập trung tốt nhất cho câu trả lời.

2. Nỗi ám ảnh về các bẫy trong câu hỏi
Chuyện có bẫy trong các câu hỏi phần đọc hiểu là có. Nên ko ít người lúc nào cũng nghĩ câu hỏi nào cũng có bẫy, do đó ngay cả câu mình nghĩ đúng vẫn ko tự tin 100% để quyết định. Thực tế là bài thi có cả hai loại câu, do đó, phải biết phân loại câu nào bẫy nhiều hơn để có đối sách hợp lí. Ngoài ra, cũng nên biết về cách người ta bẫy để biết mà tránh.

Hai tuần vừa qua, chồng tập trung học phần đọc hiểu, cố gắng tìm cho mình một cách học phù hợp để giải quyết hai vấn đề trên.

1. Đối với phần ngữ pháp và từ vựng, cách tiếp cận thông thường là lấy sách ngữ pháp học cho vững, từ vựng nắm cho vững, rồi sau đó mới bắt tay vào làm bài phần đọc hiểu. Chồng tiếp cận ngược lại, đọc lướt qua các phần ngữ pháp và từ vựng để có ý niệm chút chút, sau đó tập trung vào làm bài phần đọc hiểu.

Khi chồng làm bài tập đề thi N2, đa số là chỉ có thể hiểu 10-20%, vậy mà vẫn phải chọn câu trả lời. Đúng là quá khó để có thể có câu trả lời đúng với mức độ hiểu như vậy. Tuy nhiên, học cách này cũng có một cái hay đó là chồng biết được những thứ nào cần thiết nhất cho việc nâng phần hiểu lên 50-60%. Nói cách khác, cách này cho chồng biết những thứ nào liên quan đến câu trả lời, những thứ nào không. Đồng thời luyện luôn cảm giác quen với chuyện đoán khi mình ko biết hoàn toàn. Kết quả là sau một hồi làm bài tập, giờ cầm cuốn luyện từ vựng N3 lên, trong số 880 chữ cần học, chồng đã biết khoanh vùng cho mình khoảng 200 chữ cần ưu tiên học cho phần thi đọc hiểu. Trước đây cũng cầm cuốn sách đó lên, cũng đọc nhưng chẳng có chút cảm xúc gì vì mình ko biết trong số cái đống từ đó, những từ nào cần thiết nhất (tất nhiên cả 880 chữ đều cần thiết, nhưng sức người có hạn, chỉ có thể học 200 chữ, do đó cần phải biết 200 chữ này là chữ gì).

Chồng học Kanji cũng khá nên số danh từ biết cũng nhiều, qua kì làm bài tập đọc hiểu mới thấy một số động từ rất quen dùng lại không biết, ngoài ra các từ nối (conjunction), trợ từ (adverbs) mang tính quyết định đến lập luận của các câu văn cũng ko biết luôn. Bây giờ nói luyện từ vựng và ngữ pháp, ít ra chồng cũng hình dung là mình cần ƯU TIÊN luyện cái gì.

2. Đối với phần bẫy của các câu hỏi, thực ra có hai loại sụp bẫy: thứ nhất là bẫy do mình không đủ từ vựng, nghĩa là cũng là ý đó, nhưng viết lại bằng cách khác, ko đủ từ vựng nên ko hiểu, dẫn đến trả lời sai; thứ hai là bẫy do câu hỏi đòi hỏi kĩ năng suy luận và tóm lược. Loại bẫy thứ hai khó hơn, và không ít người hiểu gần hết bài đọc vẫn bị bẫy như thường.

Để tìm hiểu cách bẫy, chồng tìm giải thích tương tự bên sách dạy luyện đọc hiểu của kì thi TOEFL (sách luyện thi JLPT như Kanzen Master giải thích rất sơ sài). Tập hợp các chiến lược có thể xem ở đây. Một số ý rút ra:

- Trong 4 câu trả lời, thay vì cố chọn câu đúng, hãy bắt đầu bằng việc loại các câu sai. Thường thì có thể loại ra 2/4 câu. Các câu này bị loại vì thường là ko có ý liên quan đến trong bài, hoặc một vài từ được thêm vào để tạo ra ý phủ định với ý trong bài.

- Phải đọc câu hỏi cho kĩ và khi quyết định chọn câu trả lời đúng, hãy xem nó có phù hợp cho câu hỏi hay không. Xu hướng của chúng ta khi chọn câu đúng là câu thể hiện ý đã viết trong bài, nhưng thực tế là câu hỏi có khi không phải vậy. Ví dụ, trong bài nói 3 chuyện A, B, C; nhưng có khi câu hỏi lại hỏi, chuyện nào trong số dưới đây không nói trong bài. Không đọc kĩ câu hỏi thì hầu như sẽ chọn câu sai vì lúc đó chỉ quan tâm đến A, B, C mà thôi.

- Bẫy tinh vi nhất là luôn có 2-3 câu khi đọc lên ý đều đúng cả. Tuy nhiên chỉ có một câu trong đó là đúng nhất. Để tránh bẫy này phải luôn tỉnh táo xem trong câu trả lời, có ý nào được nói trong bài không hay là do mình suy luận ra. Một ví dụ là trong bài nói rằng: A kiếm tiền nhiều hơn B, A là nhà văn, B là họa sĩ. Câu trả lời nói rằng nhà văn kiếm tiền nhiều hơn họa sĩ thoạt nhìn nghe có lí vì nó có thể suy từ ý trong bài, nhưng thực ra đó là bẫy vì trong bài ko nói có ý đó. Một ví dụ khác là trong bài nói rằng, người ta điều tra để biết mối liên hệ giữa A và B; kết quả là A tốt hơn B. Nếu câu hỏi là điều tra về cái gì, thì câu trả lời đúng phải là mối liên hệ giữa A và B. Tuy nhiên, trong số câu trả lời, có thể có ý rằng điều tra cho thấy A tốt hơn B. Ý này là đúng, nhưng thực ra lại không phù hợp cho câu hỏi.

Cách tốt nhất để làm bài đọc hiểu tốt hơn đó là làm thật nhiều bài tập, để quen với các dạng câu hỏi, có thêm kinh nghiệm về các dạng bẫy. Suy cho cùng, bên cạnh kĩ năng nghe, nói thì đọc hiểu là kĩ năng đỉnh cao của ngôn ngữ. Nó cũng giống như một em bé, sau một thời gian tập nói, có thể giao tiếp đuược thì phải học để hiểu chứ mù chữ, ko đọc được sách thì cũng không thể mở mang tri thức được.

CY

Thứ Sáu, tháng 11 05, 2010

[Luyện thi JLPT-N3] - Kì 11 - Tản mạn chuyện học thi tiếng Nhật - 4

Phần 1 ở đây.
Phần 2 ở đây.
Phần 3 ở đây.


Trong các sách luyện thi JLPT cũ, có thể nói cuốn Kanzen Master là cuốn sách được các bạn luyện thi đánh giá cao. Hồi chồng luyện thi 3-kyuu thì thấy cuốn ngữ pháp (bìa đỏ) rất hay vì nó hệ thống hóa các điểm ngữ pháp một cách khoa học, diễn giải dễ hiểu và rất sát với đề thi.

Từ 2010 trở đi, kì thi JLPT có một số thay đổi mới và có dư luận cho rằng các cuốn luyện thi Kanzen Master không còn phù hợp nữa. Cũng vì vậy mà dù ở nhà vợ đã mua cuốn Kanzen nhưng trước đó chồng hầu như không quan tâm.

Kanzen Master (level 1+2 vocabulary) Japanese Language Proficiency Test Level 2 Reading Practice (Kanzen Master) Japanese Language Proficiency Test Level Two Grammar (Kanzen masutaa 2 kyuu: Nihongo Nouryoku Shiken Bunpou Mondai Taisaku) (in Japanese) Japanese Language Proficiency Test: Grammar Exercises Level 3 (Kanzen Masutaa) (Japanese Edition)

Trong quá trình tìm cách học phù hợp cho mình, chồng đã lập luận rằng, cần phải tiếp cận theo cách bottom-up, nghĩa là mình phải bắt đầu từ các bài thi để xem người ta yêu cầu cái gì và chuyển trọng tâm vào đó. Đó là lí do trong thời gian luyện gần đây, chồng và các bạn thường lấy các bài thi cũ ra làm. Qua quá trình làm bài như vậy, khám phá ra một số thứ mình cần phải học thêm.

Tra lại các sách đã có thì thấy đề cập hầu hết trong cuốn Kanzen Master. Các bài ví dụ cho chiến thuật làm bài đa số là rút trích từ đề thi các năm trước :-) Nói cách học của chồng không giống ai cũng không sai, người ta khi học thi thì học ngay cuốn Kanzen Master, còn chồng thì lượn một vòng và cũng học ngay cuốn Kanzen Master. Tuy nhiên, cũng phải nói rõ là chồng khác người ta ở chỗ, người khác chọn sách theo lời khuyên hơn là  lí giải tại sao cuốn Kanzen Master cần cho mình một cách rõ ràng. Chính vì vậy mà khi có dư luận cho rằng cuốn Kanzen Master có thể ko còn phù hợp cho kì thi mới nữa thì mọi người cũng có xu hướng  bỏ nó luôn.

So sánh các điểm của dạng thi mới JLPT so với dạng thi cũ thì thấy đúng là có một số phần đã được lược bớt và một số phần mới được bổ sung vào. Tuy nhiên về cơ bản thì các kĩ năng liên quan đến đọc hiểu trình bày trong cuốn Kanzen Master vẫn dùng lại được rất nhiều cho dạng thi mới. Vấn đề ở đây là mình phải quyết định chọn phần nào trong cuốn Kanzen Master cũ để học thi cho phần mới. Nếu chỉ máy móc học tuần tự theo kiểu thi cũ thì đúng là kết quả sẽ có thể không cao.

Ít ra cho đến thời điểm này, khi học tiếng Nhật chồng có thể giải thích thuyết phục về việc tại sao phải học Hán tự và tại sao cuốn Kanzen Master lại được các bạn luyện thi đánh giá cao. :-)

CY

Thứ Hai, tháng 11 01, 2010

[Luyện thi JLPT-N3] - Kì 11 - Tản mạn chuyện học thi tiếng Nhật - 3

Phần 1 ở đây.
Phần 2 ở đây.


3. Quá chú trọng đến chiến lược, học căn bản chưa xong mà đã muốn thi ở level cao hơn
Chuyện chú trọng đến chiến lược là hiển nhiên vì quan điểm của chồng là mình phải chọn cho mình phương pháp phù hợp với chính mình. Chiến lược chính là cách thể hiện điều đó.

Sẽ ko ít người ngạc nhiên khi chồng trình độ tiếng Nhật khoảng N4, ko lo học ngữ pháp căn bản cho chắc, mà đã bày đặt làm bài tập ở trình độ cao hơn hẳn là N2. Đây là cách suy nghĩ thông thường, bởi vì người ta nghĩ rằng, khi làm bài tập thì phải đủ lực mới làm đúng được.

Thực ra quan điểm của chồng lại khác. Chồng tiếp cận theo cách bottom-up chứ ko phải top-down. Theo cách top-down thì cách học sẽ là theo kiểu bổ sung kiến thức dần dần, đến một lúc nào đó, thấy đủ tự tin thì sẽ đi thi. Cách bottom-up của chồng thì ngược lại, chồng đặt cho mình mục tiêu trước, ví dụ N2, sau đó sẽ tìm hiểu N2 cần những thứ gì mà mình cần phải bổ sung, và ưu tiên tập trung vào học mấy thứ đó trước! Do đó, chuyện chồng làm bài tập N2 ở lúc này thực ra là bước khảo sát xem, trong các bài N2, các điểm ngữ pháp, từ vựng, cách nói nào hay được dùng nhất, sau đó tập trung vào các phần đó trong các cuốn sách dạy về N2 trước. Học được một chút, lại quay lại làm bài tập để xem tiếp mình đã hiểu đến đâu, cần bổ sung gì thêm không, rồi lại tiếp tục quay lại sách học. Cứ xoay vòng như vậy nhiều lần, thì sẽ đến lúc nắm vững thôi.

Với số đông, cách học thường là học theo kiểu tuần tự, nghĩa là học hết bài này đến bài khác. Cách học của chồng ngược lại, học theo kiểu xoắn ốc, nghĩa là thứ tự ko nhất thiết phải tuần tự, thứ tự phụ thuộc việc mình muốn học cái gì. Và một thứ có thể sẽ học nhiều lần, mỗi lần một mức độ khác nhau.

Thấy vậy thôi chứ cách học này thực ra là cách mà người ta hay dạy trong phần Reading Comprehension. Để tối ưu hóa thời gian, cần phải biết câu hỏi là gì, và chú trọng đến các phần có thể giúp trả lời câu hỏi. Các kĩ thuật như Skimming, Scanning giúp rất hiệu quả cho việc này. Đây cũng là một cách tiếp cận trong việc nghiên cứu!

[Luyện thi JLPT-N3] - Kì 11 - Tản mạn chuyện học thi tiếng Nhật - 2

Xem phần 1 ở đây!


2. Ko muốn đi thi JLPT vì học chưa đủ. 
Đây có thể nói là một suy nghĩ rất rất phổ biến. Chồng hồi xưa cũng vậy! Bây giờ thì thấy quan điểm đó rất không phù hợp với mình.

Thứ nhất, suy nghĩ theo cách trên là top-down, nghĩa là chỉ đi thi khi đủ tự tin. Thực tế là với những người lười biếng kiểu như chồng, có bao giờ chịu học đâu mà để dần dần tích lũy đến khi đủ tự tin. Hệ quả là trượt dài. Chồng là ví dụ điển hình, 7 năm vẫn ko thi nổi N2. 

Hồi còn đi học ĐH, chắc chúng ta ai cũng biết, đã đi học thì phải đi thi. Ngày thi thì ko đổi. Đến ngày thi có thể học xong, hoặc học chưa xong, nhưng vẫn phải thi. Thi rớt thì thi lại. Học ĐH 4-5 năm phải xong, ko có chuyện nghĩ phải đủ tự tin khi cầm tấm bằng ĐH thì mới thi tốt nghiệp ĐH. Ý chính ở đây là gì? Đó chính là ràng buộc về thời gian. Nếu trường cho tự do về thi lúc nào cũng được, tốt nghiệp lúc nào cũng được, chắc gì hầu hết mọi người đã tốt nghiệp ĐH sau 4-5 năm? Hồi trước đi học, người ta đặt cho mình ràng buộc về thời gian nên mình đã thành công. Còn sau khi học xong, tự học, ko đặt cho mình ràng buộc thời gian, ví dụ tháng 12 này phải thi JLPT, nên ko có áp lực, và ko có áp lực thì ko có nỗ lực và hệ quả chẳng đạt được thành quả gì. 

Nói một cách khác, ko nhất thiết phải đợi đủ trình độ mới đi thi JLPT, phải đặt ràng buộc phải thi JLPT trước (giống như ngày thi kết thúc môn học vậy), và phải cố gắng thu xếp để đạt kết quả tốt nhất có thể. Bây giờ là tháng 10, tháng 12 mới thi, tháng 2 năm sau có kết quả, chưa thi, chưa có kết quả, thì ko ai có thể chắc là mình đậu hay rớt cả. Ngay cả chuyện thi rớt, thì nó cũng có ích, vì kết quả cho biết mình đang ở mức độ nào so với đích. Nếu ko đi thi, mình ko thể ước lượng chính xác được.

Chính vì suy nghĩ như vậy nên chồng mới đăng kí thi JLPT. Chồng ko có quan điểm đi thi JLPT mà phải chắc đậu mới đi thi, mà chồng xem kì thi JLPT là một cái mốc để mình phấn đấu, và kết quả là đánh giá khách quan nhất cho sự nỗ lực của mình. Có đánh giá từng chặng đường một sẽ giúp mình định hướng tốt hơn ở chặng tiếp theo để đến đích!

[Luyện thi JLPT-N3] - Kì 11 - Tản mạn chuyện học thi tiếng Nhật - 1

Có lẽ đối với nhiều người, cách suy nghĩ và tiếp cận về việc học thi tiếng Nhật của chồng chẳng giống ai. Đại loại, quá chú trọng đến chiến lược thi cử mà ko lo học căn bản, học chưa đến đâu mà cứ đòi thi các level nhìn vào là biết ngoài sức của mình.

Có một thực tế là chồng 7 năm ở Nhật, nhưng ko biết tiếng Nhật; trong khi đó vợ chỉ 2-3 năm ở Nhật đã thi đậu 2-kyuu chủ yếu bằng tự học. Chuyện làm thế nào để học giỏi ngoại ngữ ai cũng có thể nói ra, rèn luyện thường xuyên bằng giao tiếp, xem tivi, tham gia các sinh hoạt ở Nhật. Vậy thì tại sao lại có chuyện 2 người cùng một môi trường mà người này thì rành tiếng Nhật, còn người kia thì gần như con số không? Vấn đề nằm ở chỗ, chính là phải biết chọn cho mình phương pháp học phù hợp cho chính mình. Chuyện chồng học khác người mà trước giờ mọi người đã thấy chính là quá trình chồng đi tìm phương pháp học phù hợp cho chính mình.

Chuyện nói nghe đơn giản, nhưng thực ra ít ai chịu đầu tư để tìm ra cách học cho chính mình. Thực tế là mọi người hay theo cách của số đông. Cứ thấy anh X làm chuyện Y thành công là người người đổ xô đi làm điều tương tự mà ko tự hỏi mình và anh X có gì giống khác nhau. Ví dụ hồi xưa ở VN, muốn rèn luyện ngoại ngữ, là cứ suy nghĩ theo kiểu phải ra trung tâm học, trung tâm càng xịn thì tin rằng mình sẽ giỏi ngoại ngữ. Kết quả là có người thành công, có người ko thành công. Người ko thành công đa số là những người lười biếng như chồng :-). Nhìn rộng ra xã hội VN ko thiếu trường hợp tương tự, ví dụ thời kì chạy theo phá rừng ào ạt trồng cafe, hay đào hồ nuôi cá basa; hay mở công ty outsourcing.

Chồng có thói quen đưa ra một số luận điểm (có thể ngược với số đông), và cố gắng tìm cách lập luận để bảo vệ nó. Chuyện học tiếng Nhật này cũng vậy!

1. Thi JLPT ko hẳn cần thiết, có nhiều người giỏi nhưng thi JLPT có thể rớt, có nhiều thứ trong JLPT ít khi được dùng thường ngày
- Nếu nói từng trường hợp thì tất cả các lập luận trên đều có thể lấy ví dụ để chứng minh luận điểm đó là có lí. Do đó sẽ rất ấu trĩ nếu tìm phản bác các lập luận trên. Vấn đề là phải xét tình huống của từng người.
- Với tình huống của chồng (có thể giống hoặc khác nhiều người), chồng cho rằng thi JLPT là cần thiết. Lí do:
+ JLPT có thể đo lường năng lực tiếng Nhật của mình một cách toàn diện. Độ tin cậy của kì thi JLPT chắc chắn phải hơn độ tin cậy của nhận xét của ông A hay ông B nào đó rằng "Anh D. giỏi tiếng Nhật thật!". JLPT được các trường ĐH ở Nhật lấy làm tiêu chí để xét năng lực tiếng Nhật cho thi đầu vào.
+ Chuyện người giỏi nhưng thi rớt JLPT nên xét cụ thể ở chỗ đánh giá thế nào là giỏi. Một người có thể nói chuyện giao tiếp như người bản xứ thường được cho là giỏi. Tuy nhiên khả năng toàn diện về ngôn ngữ ko giới hạn trong việc giao tiếp mà thôi. Cũng giống như người Việt nào chẳng nói giao tiếp được, nhưng đâu có phải ai cũng có thể thi văn, thậm chí là cấp 2, cấp 3 đạt trên 5 điểm. Do đó, nếu chỉ đặt mục tiêu giao tiếp giỏi mà thôi thì JLPT có thể ko cần, nhưng nếu đặt mục tiêu là học ĐH, sau ĐH ở Nhật, biết đọc tiểu thuyết, cảm nhận văn hóa, viết luận bằng tiếng Nhật thì nhất thiết phải nên dùng JLPT để đo lường năng lực của mình.